1. Việc thi công cọc xi măng tro bay đá dăm phải tuân theo yêu cầu thiết kế và điều kiện công trường, và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành: (1) Cọc khoan xoắn ốc dài và bơm vữa thích hợp cho đất dính, đất bùn và nền đất đắp nhân tạo trên mực nước ngầm; (2) Cọc khoan tường bùn và bơm vữa thích hợp cho đất dính, đất bùn, đất cát, đất đắp nhân tạo, đất sỏi và lớp đá phong hóa; (3) Cọc khoan xoắn ốc dài và cọc hỗn hợp ép bằng bơm ống thích hợp cho đất dính, đất bùn, đất cát và các loại nền khác, cũng như các công trường có yêu cầu kiểm soát tiếng ồn và ô nhiễm bùn nghiêm ngặt; (4) Cọc đóng ống và bơm vữa thích hợp cho đất dính, đất bùn, đất đắp nhân tạo và lớp cát dày không được đầm nén.
2. Bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia hiện hành, việc thi công cọc khoan xoắn ốc dài và cọc trộn vật liệu chịu áp lực bơm bên trong ống, cũng như cọc đóng ống và bơm vữa, cần đáp ứng các yêu cầu sau: (1) Trong quá trình thi công, vật liệu trộn phải được chuẩn bị theo tỷ lệ thiết kế. Lượng nước thêm vào máy trộn được kiểm soát bởi độ sụt của vật liệu trộn. Đối với thi công cọc khoan xoắn ốc dài và cọc trộn vật liệu chịu áp lực bơm bên trong ống, độ sụt nên là 180-200mm, trong khi đối với thi công cọc đóng ống và bơm vữa, độ sụt tốt nhất nên là 30-50mm. Sau khi cọc hình thành, độ dày của lớp vữa nổi trên đỉnh cọc không được vượt quá 200mm; (2) Sau khi khoan đến độ sâu thiết kế, đối với thi công cọc khoan xoắn ốc dài và cọc trộn vật liệu chịu áp lực bơm bên trong ống, thời điểm nâng cần khoan phải được kiểm soát chính xác. Thể tích vật liệu trộn được bơm phải phù hợp với tốc độ kéo ống để đảm bảo duy trì một chiều cao nhất định của vật liệu trộn trong ống. (2) Nếu gặp phải lớp cát bão hòa hoặc lớp bùn bão hòa, không nên dừng bơm để chờ thêm vật liệu. Đối với việc đóng cọc bằng ống và bơm vữa, tốc độ kéo ống nên được kiểm soát ở tốc độ tuyến tính trung bình, với tốc độ dây kéo ống được kiểm soát ở khoảng 1,2-1,5m/phút. Nếu gặp bùn hoặc đất phù sa, tốc độ kéo ống có thể được giảm xuống cho phù hợp; (3) Trong quá trình thi công, cao độ đỉnh cọc phải cao hơn cao độ đỉnh cọc thiết kế. Chiều cao so với cao độ đỉnh cọc thiết kế phải được xác định dựa trên khoảng cách cọc, hình dạng bố trí cọc, điều kiện địa chất tại công trường và trình tự hình thành cọc, nói chung không nhỏ hơn 0,5m; (4) Trong quá trình hình thành cọc, cần lấy mẫu vật liệu hỗn hợp để làm khối thử nghiệm. Mỗi máy phải sản xuất một bộ (3 khối) khối thử nghiệm (hình lập phương có cạnh dài 150mm) mỗi ngày, phải được bảo dưỡng tiêu chuẩn trong 28 ngày và phải đo cường độ nén của chúng; (5) Trong quá trình thi công cọc đổ ống, cần quan sát ảnh hưởng của các cọc mới thi công lên các cọc đã thi công. Khi phát hiện cọc bị gãy và tách rời, phải tiến hành ép tĩnh từng cọc một. Thời gian ép tĩnh thường là 3 phút, và tải trọng ép tĩnh cần thiết để đảm bảo các cọc bị gãy được nối lại với nhau.
3. Hố móng của móng hỗn hợp có thể được đào bằng tay hoặc bằng máy móc, hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Khi kết hợp đào bằng máy và bằng tay, chiều sâu phần đào bằng tay cần được xác định bằng cách khảo sát thực địa để đảm bảo phần bị nứt do đào bằng máy không thấp hơn độ cao đáy móng và đất giữa các cọc không bị xáo trộn.
4. Nên sử dụng phương pháp đầm tĩnh để trải lớp đệm. Khi hàm lượng nước trong đất giữa các cọc dưới đáy móng thấp, có thể sử dụng phương pháp đầm động.
5. Trong quá trình thi công, sai lệch cho phép về chiều dài cọc là 100mm, về đường kính cọc là 20mm và về độ thẳng đứng là 1%. Đối với móng toàn phần với cọc bố trí thành một hàng, sai lệch cho phép về vị trí cọc là 0,5 lần đường kính cọc; đối với móng băng, sai lệch cho phép về vị trí cọc vuông góc với trục là 0,25 lần đường kính cọc, và theo hướng dọc trục là 0,3 lần đường kính cọc. Sai lệch cho phép về vị trí cọc trong một hàng cọc không được vượt quá 60mm.

Thời gian đăng bài: 04/06/2025




